SKKN Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh Lớp 3C trường TH&THCS Đăk Trôi

docx 19 trang Hoành Bính 29/08/2025 160
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh Lớp 3C trường TH&THCS Đăk Trôi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxskkn_mot_so_bien_phap_ren_ki_nang_viet_dung_chinh_ta_cho_hoc.docx

Nội dung text: SKKN Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh Lớp 3C trường TH&THCS Đăk Trôi

  1. I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lí do chọn đề tài: Như chúng ta đã biết, có thể nói ở bậc Tiểu học môn Tiếng Việt là một môn học vô cùng quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Trong đó, kĩ năng viết là một trong những kĩ năng quan trọng trong 4 kĩ năng nổi bật của môn Tiếng Việt đó là: Nghe, nói, đọc và viết. Kĩ năng này hình thành cho học sinh tri thức và kĩ năng chính tả, phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ ở dạng thức viết và hoạt động giao tiếp. Vì thực hiện xuyên suốt và song song với các hoạt động nghe, nói, đọc; nó giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả góp phần giúp các em đọc thông, viết thạo. Bên cạnh đó, chữ viết trong môn Tiếng Việt còn là kí hiệu bằng hình ảnh thị giác ghi lại tiếng nói, mỗi hình nét tương ứng với một đoạn âm thanh có ý nghĩa của tiếng nói. Kĩ năng chính tả thực sự cần thiết đối với mọi người, không chỉ đối với học sinh lớp 1,2,3 nói riêng mà học sinh tiểu học nói chung khi đọc một văn bản để viết đúng chính tả, người đọc có cơ sở để hiểu đúng nội dung văn bản đó. Trái lại một văn bản mắc nhiều sai sót về chính tả, người đọc khó nắm bắt nội dung và có thể hiểu sai hoặc không hiểu đầy đủ văn bản. Viết chính tả đúng còn giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt và cả các môn học khác ở tiểu học. Bởi lẽ, chính tả là toàn bộ các quy tắc, quy định về cách viết các đơn vị từ ngữ như cách viết hoa, viết tên riêng, cách viết dấu câu. Chính tả là những quy định mang tính xã hội có tính chất bắt buộc và thống nhất trong cả nước mà không cho phép sự sáng tạo của cá nhân nào trong chữ viết. Việc dạy chính tả hiện nay được thực hiện một cách có kế hoạch mang tính chủ động qua hệ thống các bài tập ở sách giáo khoa. Giáo viên hướng dẫn học sinh học chính tả qua các bài viết (nghe viết, nhớ viết). Qua làm các bài tập điền phụ âm đầu, điền vần, điền dấu thanh hoặc qua các bài chính tả rèn kĩ năng viết đúng, viết đẹp. Tăng cường kĩ năng viết các văn bản sẽ giúp học sinh có ý thức hơn khi viết văn bản trong thực tiễn ở một góc độ nào đó. Chính vì thế mà viết trở thành một kĩ năng vô cùng quan trọng trong môn Tiếng Việt vì nó đòi hỏi kĩ năng rèn chữ, viết đúng, viết đẹp cho học sinh. Tuy nhiên, hiên nay một bộ phận giáo viên vẫn còn cho rằng, ở mỗi bài viết đòi hỏi một lượng thời gian nhất định chỉ cần học sinh nghe viết được, nhớ viết được là xong và họ vẫn chưa thật sự coi trọng việc rèn chữ cho học sinh nên mới chỉ dừng lại ở góc độ đọc, viết, nhận xét mà chưa thật sự sát sao với học sinh. Mặt khác, giáo viên còn có tâm lí ngại chấm chữa chính tả cho học sinh. Hơn nữa, phụ huynh học
  2. 2 sinh là người đồng bào dân tộc thiểu số trình độ nhận thức của họ còn rất hạn chế nên việc quan tâm, giúp đỡ đến chữ viết của con em mình vẫn chưa có dẫn đến tình trạng học sinh viết bài chính tả một cách vội vàng, không có chú ý đến việc rèn chữ viết chỉ muốn viết cho xong bài tập được thầy cô giáo hoặc bố mẹ giao cho mình. Vì lẽ đó mà chữ viết của các em đã bị ảnh hưởng rất nhiều, đặc biệt là đối với học sinh của lớp 3C và học sinh người đồng bào dân tộc thiểu số ở trường TH&THCS Đăk Trôi thì việc viết đúng chính tả cần được quan tâm và chú trọng. Đó chính là lý do tôi tìm hiểu và nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm: “ Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 3C trường TH&THCS Đăk Trôi”. II. PHẦN NỘI DUNG
  3. 3 1. Thực trạng: Có thể nói, mấy năm gần đây các trường tiểu học trong địa bàn huyện Mang Yang nói chung và trường TH & THCS Đăk Trôi nói riêng, phong trào rèn chữ viết đẹp đã được chú trọng và ngày càng nâng cao được thể hiện rất rõ ràng và cụ thể thông qua các Hội thi viết chữ đẹp cấp trường, viết chữ đẹp cấp huyện do Phòng Giáo dục huyện Mang Yang phát động và cũng đã thu về được những kết quả đáng được mong đợi. Với mục tiêu phát triển chữ viết cho học sinh của lớp, của trường ngày càng đẹp hơn, tiến bộ hơn, tôi cũng đã ấp ủ rất nhiều dự kiến, học hỏi rất nhiều, tôi luyện bản thân, hoàn thiện mình đặc biệt là về chuyên môn nghiệp vụ sư phạm, luôn nung nấu để tìm ra được các giải pháp tốt giúp chữ viết của học sinh tiểu học trong trường nói chung và học sinh lớp 3C nói riêng được cải thiện hơn, viết đúng, viết đẹp hơn. Năm học 2022- 2023, tôi được phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp 3C. Trong quá trình dạy học, tôi thấy được những lỗi sai của học sinh khi viết chính tả là: chữ viết không cẩn thận, sai rất nhiều lỗi chính tả những chữ rất đơn giản và gặp thường xuyên mà có em vẫn viết sai đặc biệt là các tiếng có âm đầu tr/ch; s/x; d/gi; ng/ngh; g/gh; hay là việc viết bỏ dấu thanh;... Sở dĩ các em thường viết sai là do không nắm vững quy tắc viết chính tả hoặc do ảnh hưởng cách phát âm của địa phương. Ngay từ đầu năm học, tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát và cập nhật các thông tin về học sinh thông qua giáo viên chủ nhiệm năm trước, phụ huynh học sinh và bạn đồng nghiệp để có biện pháp phù hợp. Sau khi khảo sát một số bài chính tả ở lớp, tôi thống kê được một số lỗi của học sinh mắc phải như sau: Lần Số Viết sai Thời Viết đúng Viết sai dấu Không học phụ âm Viết sai vần gian toàn bộ thanh viết hoa sinh đầu Đầu năm 18 3 ( 16,7 %) 13 (72,2 %) 5 (27,8%) 3 (16,7%) 4 (22,2%) + Về lỗi âm đầu:
  4. 4 Học sinh ở lớp tôi có 5 em: Tân, An, Na, Lưỡi, Thao thường xuyên viết sai các cặp phụ âm đầu: tr/ch, s/x, r/d/gi, ng/ngh, g/gh, c/k. Trong đó lỗi chính tả tập trung ở d/gi, ch/tr, ng/ngh, s/x (chiếm khoảng 27,8%). Ví dụ: giải phóng / dải phóng xúc động / súc động truyền thống / chuyền thống nghỉ hè/ ngỉ hè con kiến/ con ciến + Về lỗi phần vần: Ở lớp tôi còn có 3 em: Trang, Canh, Nhut thường hay lẫn lộn các cặp vần: ai/ay, ui/uôi, in/inh, ăn/anh, ưu/ươu, iêu/iu hoặc viết sai ở các vần khó như : uya, uyn, uyt, ươt (chiếm 16,7 %) Ví dụ : ươu / ưu ; con hươu / con hưu ưu / iu : nghỉ hưu / nghỉ hiu ươi / ui : quả chuối / quả chúi + Với các cặp vần có âm ă, â / o, ô học sinh vẫn còn hay nhầm lẫn, ở lớp có 2 em: Na, Non vẫn còn viết sai. Ví dụ : bà cháu / bà chấu gặp gỡ / gập gỡ thứ sáu / thứ sấu Hay: Phát âm “con tầm” mà thực chất là “con tằm”. Phát âm “mái tốc’’ mà thực chất là “mái tóc”. Phát âm “mầu sắc’’mà thực chất là “ màu sắc ’’. + Về lỗi không viết hoa: Học sinh ở lớp tôi, vẫn còn 4 em: Liu, Canh, Nhut, Nuễ viết hoa một cách tùy tiện không theo một trật tự hay một quy luật cụ thể nào, lúc thì viết hoa, lúc lại viết thường, các em vẫn chưa nắm được quy cách khi nào cần viết hoa, khi nào phải viết thường. Ví dụ: Hồ Chí Minh/ Hồ chí minh Bàn tay của em/ bàn Tay Của em Cao Bằng/ Cao bằng Điện Biên/ điện biên + Về lỗi dấu thanh:
  5. 5 Học sinh ở lớp tôi, chủ yếu là sai thanh hỏi / thanh ngã và bỏ dấu thanh, đặc biệt là lỗi bỏ dấu thanh, bởi lẽ các em là người đồng bào dân tộc thiểu số nên khi viết chính tả các em rất thường hay bỏ dấu thanh (chiếm 72,2 %). Ở lớp tổng số học sinh là 18 em thì có đến 13 em sai về lỗi này đó là các em : Trang, Yin, Thuyêt, Nhut, Canh, Lưỡi, Nuễ, Na, Tân, An, Tân, Thao, Non. Ví dụ : suy nghĩ / suy nghỉ/ suy nghi nghỉ hè/ nghĩ hè/ nghi he Bài viết của em Non đầu năm học Theo thống kê số học sinh sai về dấu thanh cũng chiếm tỉ lệ đáng kể. Nguyên nhân của hiện tượng này là do: Thứ nhất, do ảnh hưởng của cách phát âm tiếng địa phương ( vì học sinh chủ yếu là người Bahnar, các em hằng ngày tiếp xúc với ông bà, bố mẹ, anh, chị, em, bạn bè, đều là người bản địa chính vì vậy mà các em chịu ảnh hưởng bởi tiếng địa phương là rất nhiều do vậy nên dẫn đến tình trạng đọc sao viết vậy của học sinh). Thứ hai, do chưa hiểu biết đầy đủ về các quy tắc chính tả và nội dung ngữ nghĩa của các từ (bởi lẽ các em là người đồng bào dân tộc thiểu số nên vốn tiếng Việt của các em còn hạn chế, nhiều từ các em còn chưa hiểu được hết nghĩa hoặc có những quy tắc chính tả các em còn chưa nắm được do vậy dẫn đến việc hiểu sai và viết sai chính tả). Từ những thực trạng trên mà tôi đã nghiên cứu để tìm ra "Một số biện pháp rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 3C trường TH&THCS Đăk Trôi”
  6. 6 để giúp học sinh hiểu được: Vì sao phải viết đúng chính tả? Vì dù bài văn, bài toán có hay, có đúng đến đâu mà chữ viết sai chính tả, viết nguệch ngoạc, cẩu thả, xấu không đọc được thì bài văn, bài toán đó không còn giá trị vì có ai đọc được nó đâu. Người xưa có câu “nét chữ, nết người”, người ta nói không thể “nhìn mặt mà bắt hình dong” nhưng lại có thể nhìn chữ mà đoán được con người đó như thế nào dựa vào chữ viết. Bên cạnh đó, 100% học sinh trong lớp tôi là đều là người Bahnar, hầu hết gia đình các em đều là những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, cha mẹ ngày ngày phải lo mùa vụ kiếm tiền lo từng miếng cơm, manh áo cho con, chính vì thế mà họ dần quên lãng đi việc học của con em mình; họ chưa có ý thức được về việc phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ nên không tạo điều kiện cho con cái học tập. Mặt khác, học sinh chưa có thời gian bồi dưỡng rèn luyện chữ viết, chưa chú trọng việc rèn chữ. Từ những nguyên nhân trên dẫn đến chữ viết của học sinh còn xấu, không đúng mẫu chữ quy định trong trường tiểu học, viết còn sai nhiều lỗi chính tả, sai cách trình bày Do vậy, để đáp ứng được nhu cầu của gia đình, nhà trường và của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Mang Yang trong việc rèn "nét chữ, nết người" cho học sinh nên tôi chọn đề tài này để nghiên cứu nhằm tìm ra giải pháp hữu hiệu cho quá trình “rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 3C”. 2. Các biện pháp giải quyết Là giáo viên giảng dạy lớp mình thì bản thân tôi phải bổ sung, điều chỉnh mục đích của kĩ năng viết trong môn Tiếng Việt sao cho phù hợp với lớp mình phụ trách, cũng như trong việc lựa chọn để cho học sinh làm bài tập chính tả. Vì bài tập chính tả có phân định rõ: một là phần bài tập bắt buộc; hai là bài tập lựa chọn dành cho các vùng có phương ngữ khác nhau. Nên nhắc nhở phân tích các từ ngữ mà học sinh viết sai và thường gặp trong các môn học khác để các em hiểu nghĩa từ và luôn viết đúng. Dựa vào điều tra, cập nhật và phân loại học sinh, tôi đưa ra một số biện pháp để khắc phục thực trạng sai lỗi chính tả nói trên của lớp tôi như sau: 2.1. Biện pháp giáo viên đọc mẫu - Hướng dẫn cách viết cho học sinh. • Đối với những em hay sai lỗi viết không viết hoa, sai cách trình bày: Giáo viên hướng dẫn viết chữ đầu câu ta phải viết như thế nào? (Viết hoa chữ đầu câu). Danh từ riêng phải viết như thế nào? (Viết hoa chữ cái đầu tiên của mỗi tiếng để tạo nên tên riêng đó) . Sau dấu chấm phải viết như thế nào? (Viết hoa chữ cái đầu tiên sau dấu chấm).
  7. 7 Đối với bài văn ta viết và trình bày như thế nào? (Viết thụt vào một ô vở so với chữ đầu bài văn). Đối với bài thơ ta viết và trình bày như thế nào? (Đối với bài thơ tự do thì các chữ đầu dòng thơ phải viết hoa chữ đầu dòng và viết bằng nhau. Đối với bài thơ lục bát phải trình bày theo thể thơ: dòng 6 tiếng viết thụt lùi vào 2 ô so với lề vở; dòng thơ 8 tiếng dịch ra 1 ô so với lề vở và cứ như thế cho đến hết bài thơ; các chữ đầu dòng thơ đều phải viết hoa). Thông qua kĩ năng đọc trong môn Tiếng Việt và các môn học khác hoặc giờ ra chơi, hằng ngày tôi gọi một những em hay mắc lỗi để tìm hiểu nguyên nhân mà các em sai về từ, chữ, âm, vần thường mắc phải. Cùng trò chuyện trao đổi giúp các em đọc đúng luyện thanh từ đó sẽ nhớ lâu hơn. Rồi dần dần đọc đúng, đến viết đúng. • Đối với những em hay sai phụ âm đầu ch/ tr; s/x: Các em đọc sai tr/ch: GV hướng dẫn và chỉ cho các em cách đọc 2 âm này thông qua đọc và yêu cầu học sinh viết song song các từ có phụ âm đầu chứa âm tr/ch như: trời, trăng, trâu, trưa, trễ, trê, tre, chào, cha, che, chào mào, chích chòe, cháu, chú, chiêng, Nếu học sinh đọc âm tr thành âm ch thì dẫn đến tình trạng viết sai chính tả rất nhiều.Vì các em đọc sao viết vậy. Do vậy giáo viên cần phải luyện đọc cho thật chuẩn, chính xác. Giáo viên hướng dẫn cụ thể cách phát âm ch/tr như sau: Âm ch: Để phát âm được “ch”, các em chú ý mở khẩu hình miệng như sau: cong môi, lưỡi chạm vào hàm răng trên và sau đó từ từ co lại kết hợp bật hơi ra. Âm tr: Để phát âm được “tr”, các em đặt mặt lưỡi dưới nướu hàm trên để chặn luồng khí trong miệng, sau đó bật mạnh luồng khí ra khỏi miệng. Với cách luyện đọc đúng thường xuyên dần dần các em sẽ khắc sâu hơn và hình thành viết đúng chính tả. - Các em đọc sai âm s/x: GV hướng dẫn và chỉ cho các em cách đọc 2 âm này thông qua đọc và yêu cầu học sinh viết song song các từ có âm đầu chứa là âm s/x như: xúc xích, xôi, xe đạp, xinh xắn, sóc, sên, sứa, sói, sẻ, Đồng thời, giáo viên hướng dẫn cụ thể cách phát âm s/x cho học sinh như sau: Âm x: các em mở khẩu hình miệng, đặt lưỡi giữa hai hàm răng trên và dưới đẩy hơi ra. Âm s: các em phát âm nặng hơn, lưỡi các em đặt cong lên trên hơn và từ từ đẩy hơi mạnh từ trong ra. Nếu học sinh đọc âm s thành âm x thì dẫn đến tình trạng viết sai chính tả rất nhiều.Vì các em đọc sao viết vậy. Do vậy giáo viên cần phải hướng dẫn cho học
  8. 8 sinh luyện đọc một cách thật chuẩn, chính xác. Bởi lẽ cách phân biệt x/s không có quy luật riêng. Cách sửa chữa lỗi duy nhất là nắm nghĩa của từ, rèn luyện trí nhớ bằng cách đọc nhiều và viết nhiều. Thế nên với cách luyện đọc đúng thường xuyên dần dần các em sẽ khắc sâu hơn và sẽ viết đúng chính tả. • Đối với những em hay viết bỏ dấu thanh: Đối với học sinh này tôi thường hướng dẫn các em bằng cách nhấn mạnh những tiếng có dấu thanh. Ban đầu khi đọc cho các em viết tôi luôn hỏi tiếng đó có dấu thanh gì? Khi viết ta đặt dấu đó ở vị trí nào? Tiếp theo đó, tôi tiến hành hỏi những em hay mắc lỗi nhất như Trang, Yin, Thuyêt, Nhut, Canh, Lưỡi, Nuễ, Na, Tân, An, Tân, Thao, Thươi và lặp đi lặp lại suốt quá trình học để hình thành cho các em đó thói quen phải chú ý đến dấu câu khi viết để không mắc lỗi chính tả đó nữa. Không chỉ riêng gì với môn Tiếng Việt mà bất cứ các môn học khác, khi đọc bài các em bỏ dấu thì khi viết các em sẽ viết sai. Do đó, tôi chỉnh sửa cho các em từ đọc bài đến viết bài bất kể trong môn học nào, các em đọc mà bỏ dấu là tôi chỉnh sửa ngay lúc đó để học sinh nhận ra lỗi của mình và khắc phục lỗi ngay lúc đó. Đối với học sinh thường viết sai thanh hỏi, thanh ngã tôi thường hướng dẫn các em phân biệt cách phát âm hai dấu thanh này. Để viết đúng thanh ngã tôi cho học thuộc một số chữ thường gặp đó là: cũng, chỗ, đã, giữ (gìn), mãi mãi, mỗi (một), những, vẫn (còn),... Hoặc để viết đúng dấu hỏi tôi cho các em học thuộc một số chữ thường gặp như các chữ sau: màu đỏ, câu hỏi, sửa bài tập, kiểm tra, ... Sau đó tôi cho học sinh làm bài tập điền thanh hỏi, thanh ngã các từ sau đây: Câu hỏi thì điền dấu gì? ( dấu hỏi) Mãi mãi thì điền dấu gì? (dấu ngã) Ngoài ra, tôi còn cho học sinh học thuộc luật chính tả với thanh hỏi, thanh ngã là: ngang - sắc - hỏi ( có nghĩa là tiếng không có dấu thanh hoặc có thanh sắc thì thường đi với tiếng có thanh hỏi); huyền - ngã - nặng (có nghĩa là tiếng có thanh huyền hoặc thanh nặng thường đi chung với tiếng có thanh ngã). Nhưng luật trên chỉ tương đối thôi chứ không tuyệt đối. Ví dụ:Vất vả, chăm chỉ, sư tử,... Buồn bã, giã gạo, gìn giữ, 2.2. Biện pháp giúp học sinh ghi nhớ quy tắc chính tả • Đối với những em hay sai lỗi âm đầu: c/k; ng/ngh; g/gh:
  9. 9 Giáo viên giúp học sinh phân biệt âm đầu c/k; g/gh bằng cách giáo viên hệ thống thành sơ đồ: k, gh, ngh: i e ê iê Trước âm i, e, ê và âm đôi iê, âm “gờ (kép)” ghi bằng gh, ví dụ: ghi, ghé, ghế, ghiền hay âm k: kẻ, kì, kiến, kể, hoặc âm “ ngờ (kép) bằng ngh: nghỉ, nghiêng, nghé, nghệ, Giáo viên hướng dẫn học sinh học thuộc quy tắc chính tả trên bằng cách hình dung và vẽ ra được sơ đồ như trên thì việc các em viết sai là không bao giờ xảy ra. Vì thế để viết đúng các âm đầu: c/k, g/gh, ng/ngh thì điều cần làm duy nhất là nhớ được quy tắc chính tả mà tôi nói trên. 2.3. Biện pháp giúp học sinh hiểu ý nghĩa của từ : Khi dạy chính tả giúp học sinh hiểu nghĩa của từ là rất quan trọng. Các em hiểu nghĩa từ thì sẽ viết đúng. • Đối với những em hay sai lỗi phần vần: Đối với những học sinh thường hay mắc lỗi về phần vần như : ai/ ay, ui/ uôi, ưi/ươi, in/inh, ăn/anh, ưu/ươu, iêu/iu hoặc viết sai ở các vần khó như : uya, uyn, uyt, ươt. Để khắc phục lỗi này tôi thường phân tích từ khó cho học sinh hiểu để các em có thể khắc phục được. Ví dụ: Khi viết chính tả bài: “Hai bàn tay em” đến phần phân tích từ khó giáo viên phải phân tích cách hiểu nghĩa từ “bàn tay’’ để khi viết học sinh viết đúng không lẫn lộn với từ “tai’’. Giáo viên phân tích: bàn tay, ngón tay luôn viết y (dài) nói chung “cái tay” dùng để cầm, nắm một vật gì đó thì luôn viết y (dài) mới đúng. Còn cái “tai” để nghe có nghĩa là lỗ tai thì viết i (ngắn) và chữ “tai” đi với chữ khác tạo thành từ có nghĩa không tốt thì viết i (ngắn) như: tai nạn, tai ương Hoặc phân biệt giữa vần ăn/anh: ăn là ăn cơm, ăn cá, ăn thịt, còn anh là anh em, Với cách giải thích như thế tôi chắc rằng khi viết chính tả ở bất kì môn học nào thì học sinh dần dần có thói quen viết đúng chính tả. Khi lên lớp, trong bước hướng dẫn học sinh viết đúng từ khó, giáo viên nên chú ý giải thích nghĩa của từ và có sự so sánh phân tích kĩ để học sinh hiểu được nghĩa của từ đã học thì học sinh mới viết đúng từ ấy ở mọi lúc mọi nơi.
  10. 10 Ngoài ra, tôi còn giúp học sinh khắc phục lỗi sai này bằng cách thường xuyên tổ chức trò chơi mang tính giáo dục, gắn liền với nội dung bài học, phù hợp với đặc trưng phân môn chính tả. Trò chơi học tập là chơi mà học, học có hứng thú. Để tiến hành trò chơi đạt hiệu quả giáo viên cần chú ý thực hiện các bước sau: - Bước 1: Giáo viên xác định trò chơi phù hợp với nội dung bài học, đảm bảo khả năng thực hiện của học sinh. - Bước 2: Học sinh tập dượt trò chơi theo cá nhân (tổ nhóm) - Bước 3: Thực hiện trò chơi: + Giáo viên hướng dẫn luật chơi và cách tiến hành trò chơi. + Học sinh thực hiện trò chơi + Học sinh nhận xét, đánh giá + Học sinh góp ý, khen ngợi - Có thể tổ chức các trò chơi sau: Thứ nhất: Trò chơi câu đố: Học sinh có thể trả lời câu đố của giáo viên hay của các bạn nêu ra và ghi câu giải đố vào bảng con thì xem ai giải đố đúng, viết đẹp đúng chính tả. Ví dụ: + Con gì có vẩy, có đuôi Không ở trên cạn mà bơi dưới hồ? + Để nguyên ai cũng nặc nè Bỏ nặng thêm sắc ngày hè chói chang Thứ hai: Trò chơi tìm từ (mang âm, vần do giáo viên yêu cầu) Thứ ba: Trò chơi tiếp sức Ví dụ : Trò chơi học tập như “ Bộ sưu tập từ của em”. Trong bài chính tả nghe viết: Trong đêm bé ngủ (Trang 53 – sách Tiếng Việt lớp 3- tập 1, bộ Cánh diều) Qua bài tập 3a tôi có thể tổ chức cho học sinh chơi một trò chơi với nội dung liên quan là tìm những tiếng bắt đầu bằng r/d/ gi. Tôi cho các em tìm những từ có thể ở trong hoặc ngoài bài (theo nhóm). Sau đó cho các em tổng hợp từ vào bảng nhóm theo cột (làm bộ sưu tập từ) của nhóm cho các em trình bày nhóm nào có nhiều từ hơn và giải nghĩa đúng là nhóm thắng cuộc và được tuyên dương. Sau khi các bạn trình bày học sinh dưới lớp đặt câu hỏi cho đội bạn giải nghĩa từ. Ví dụ: Bạn cho biết thế nào là gió , giúp đỡ, dỗ dành,
  11. 11 Từ đó học sinh hiểu nghĩa các từ và viết bài sẽ không bị nhầm lẫn hay sai chính tả nữa. Ngoài trò chơi đó, ta cũng có thể tổ chức một số trò chơi khác như trò chơi: “Đuổi hình bắt chữ”. Giáo viên sẽ gọi 1 học sinh lên nhìn một từ nào đó mà giáo viên đưa ra, sau đó sẽ diễn tả lại từ đó bằng hành động cử chỉ, điệu bộ chứ không được nói và nhiệm vụ ở dưới lớp phải dựa vào những cử chỉ đó để đoán ra được từ cần tìm. Từ đó, học sinh sẽ hiểu được nghĩa của từ cần tìm thông qua những gì mà bạn mình diễn tả, kèm theo những gợi ý của giáo viên, dần dần vốn từ của học sinh sẽ được tăng dần lên và lỗi sai chính tả của các em cũng giảm dần đi khi nghe và viết lại các từ đó nếu các em gặp phải. 2.4. Biện pháp chấm chữa bài cho học sinh: Việc chấm chữa bài cho học sinh sau khi viết chính tả, cũng không kém phần quan trọng thường giáo viên chúng ta sẽ thu tất cả vở học sinh để tự mình giáo viên chấm. Như vậy giáo viên đã bỏ qua bước cho học sinh tự sửa lỗi trên vở của mình hoặc của bạn (học sinh đổi vở cho nhau để bắt lỗi). Bởi lẽ, bằng cách này giáo viên chỉ có một điểm lợi là giảm bớt thời gian trên tiết dạy. Nhưng có điểm bất lợi rất lớn là học sinh không được tiếp xúc với bài mình vừa viết, không tự phát hiện ra những lỗi viết sai với sự hướng dẫn sữa chửa của giáo viên. Chính vì thế mà tôi đưa ra giải pháp là sau khi học sinh nghe viết xong một bài chính tả rồi thì giáo viên sẽ đính bài mẫu lên bảng và để tự bản thân học sinh soát, sửa lỗi chính tả cho mình hoặc sửa lỗi cho bạn sẽ giúp học sinh khắc sâu và nhớ lâu hơn những lỗi chính tả mà mình mắc phải. Ngoài ra, tôi còn đưa ra giải pháp cho các bạn học tốt, nghe viết tốt, đúng chính tả chấm chữa bài cho những bạn hay mắc lỗi chính tả nhất trong lớp. Cụ thể, trong lớp tôi đầu năm học có 3 em nghe viết tốt, đúng toàn bộ là em Sao, em Blưn và em Mơ nên tôi cho 3 em này phụ trách 3 tổ. Em Sao phụ trách tổ 1, em Blưn phụ trách tổ 2 và em Mơ sẽ phụ trách tổ 3 các em sẽ cùng với giáo viên chấm chữa bài và chỉ rõ lỗi sai của các bạn trong tổ mình được phân công để từ đó các bạn mắc lỗi biết cách khắc phục lỗi và cẩn thận hơn khi viết những bài sau; việc này tôi thực hiện xuyên suốt cả năm học cho thấy được có sự thay đổi rõ rệt, số học sinh mắc lỗi cũng giảm đáng kể. Không những thế, tôi còn chấm chữa bài cho học sinh ở mọi lúc, mọi nơi, không chỉ là ở những bài viết của học sinh mà còn ở các môn học khác, hay khi vui chơi, Khi nghe học sinh đọc sai, nói sai thì bản thân giáo viên phải chỉnh sửa ngay thời điểm học sinh đọc sai, nói sai đó để các em biết, ghi nhớ và không mắc lỗi đó
  12. 12 lần nữa. Muốn làm được điều đó thì mỗi giáo viên phải luôn luôn phát âm chuẩn ở mọi lúc, mọi nơi, trong lớp, trong trường tạo thành một thói quen để cho học sinh có ý thức viết đúng chính tả. Ngoài việc phát âm chuẩn tôi còn kết hợp giải nghĩa từ giúp học sinh hiểu nghĩa từ và phân biệt nghĩa từ của các chữ cần viết. Điều quan trọng nhất là lúc nào giáo viên cũng trang bị cho học sinh, nhắc nhở học sinh viết đúng chính tả ở tất cả các môn học và chú ý chữa lỗi chính tả cho học sinh mặc dù đang học phân môn khác và rèn luyện chữ viết cho học sinh. Giáo viên phải hoà mình gần gũi với học sinh khuyến khích động viên các em học tập, khen thưởng kịp thời, phê bình đúng lúc. Em Thao và em Thươi đổi vở chấm bài cho nhau
  13. 13 Hình ảnh cô giáo chấm chữa bài cho em Yin 2.5. Biện pháp sử dụng thiết bị dạy học: Đối với việc dạy kĩ năng viết trong môn Tiếng Việt thì việc thiết kế và sử dụng thiết bị dạy học cũng rất cần thiết. Nếu ở từng bài giáo viên có chuẩn bị phiếu bài tập, các phương tiện cần thiết phục vụ cho trò chơi như: Tranh ảnh, bảng phụ, băng giấy thì hiệu quả học tập sẽ cao hơn, giúp học sinh nhớ lâu hơn về quy tắc viết chính tả, từ đó mà không mắc lỗi chính tả. Thứ nhất là sử dụng phiếu học tập: Với cách này giáo viên phải soạn bài trên tinh thần hướng dẫn học sinh làm việc trên phiếu học tập. Giáo viên có thể dự kiến thời điểm hướng dẫn học sinh làm bài tập trên lớp một cách linh hoạt sáng tạo giúp học sinh nắm vững yêu cầu, thực hiện tốt yêu cầu bài tập. Học sinh làm, hoàn thành phiếu và có thể đổi phiếu để tự kiểm tra đánh giá lẫn nhau rồi báo cáo kết quả trước lớp. Ví dụ: Bài chính tả: Nghe-viết “Trong đêm bé ngủ”, phân biệt dấu hỏi/dấu ngã (trang 53, Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 - tập 1, bộ Cánh diều), giáo viên có thể thiết kế phiếu học tập cho học sinh làm như sau.
  14. 14 PHIẾU HỌC TẬP Em hãy điền dấu hỏi hay dấu ngã vào những từ in đậm sao cho thích hợp: Nếu nhắm mắt nghi về cha mẹ Đa nuôi em khôn lớn từng ngày, Tay bồng bế sớm khuya vất va, Mắt nhắm rồi lại mơ ra ngay. Vũ Quần Phương Có thể nói, phiếu học tập là phương tiện giúp học sinh đổi mới học tập theo tinh thần chủ động, tích cực rèn chữ viết và nắm vững quy tắc viết chính tả. Thứ hai là hướng dẫn viết đúng chính tả thông qua cách sử dụng tranh ảnh, vật thật: Tức là, dạy bài nào giáo viên có thể sử dụng một số tranh, hình ảnh minh họa từ khó cần được giải nghĩa để học sinh khắc sâu từ đó, khi gặp phải là các em sẽ hình dung ra bức tranh đó hoặc vật thật đó mà viết cho đúng. Ví dụ: Khi dạy bài Nghe - viết “Cái cầu” ( trang 87, sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 tập 1, bộ Cánh diều ) giáo viên có thể sử dụng hình ảnh dòng sông, cái cầu quen thuộc ở trong sách giáo khoa, hoặc hình ảnh dòng sông, cái cầu ở tại địa phương các em ở để giới thiệu thì khi viết bài các em sẽ không nhầm lẫn được giữa từ sông và từ xông; hay từ cai cau với cái cầu.... Chung quy lại, phiếu học tập, tranh ảnh và các thiết bị dạy học có liên quan đều là phương tiện giúp học sinh đổi mới học tập theo tinh thần chủ động, tích cực rèn chữ viết và nắm vững quy tắc viết chính tả. Ta biết rằng, trong quá trình dạy học, học sinh là nhân tố quan trọng nhất. Chính vì vậy các chiến lược dạy học tiến bộ đều hướng đến người học, lấy lợi ích của các em làm đích. Giáo viên cần tổ chức quá trình dạy học sao cho để chính học sinh tự tìm ra kiến thức mới, soạn bài theo tinh thần đổi mới phương pháp. Phương pháp dạy học mới tạo điều kiện tối đa để học sinh chiếm lĩnh kiến thức và đặc biệt gây hứng thú học tập. Điều quan trọng nữa giáo viên cần tổ chức cho các em thi đua viết đẹp, đúng chính tả ngay từ các cặp, các bạn trong lớp, trong khối, trong trường. Từ đó kích thích rèn chữ cho học sinh ngay từ khi bắt đầu cầm bút tập viết và điều chắc chắn là chữ viết của các em sẽ ngày càng được cải thiện và đẹp hơn. 3. Kết quả khảo nghiệm: Sau một thời gian áp dụng những biện pháp nêu trên vào giảng dạy tôi thấy kết quả chuyển biến rõ rệt. Hầu như các em đã biết cách vận dụng kiến thức đã học vào làm bài tập tốt hơn, ít sai lỗi hơn, bài viết đúng chính tả chiếm tỉ lệ cao hơn.
  15. 15 Kết quả cuối học kì I cụ thể đã thực nghiệm ở lớp 3C của tôi đã thu được kết quả như sau: Lần Số Viết sai Viết đúng Viết sai Viết sai Không Thời gian học phụ âm toàn bộ dấu thanh vần viết hoa sinh đầu Đầu năm 18 3 ( 16,7%) 13 (72,2%) 5 (27,8%) 3 (16,7%) 4 (22,2%) Giữa HKI 18 7 (38,8 %) 5 ( 27,8%) 3 (16,7%) 2 (11,1%) 2 (11,1%) Cuối HKI 18 12 (66,7%) 3 ( 16,7%) 1 (5,5%) 1 ( 5,5%) 1 (5,5%) Bài viết của em Non hiện tại
  16. 16 Qua thời gian áp dụng sáng kiến kinh nghiệm cho thấy việc rèn chữ, rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho các em có tăng lên và ngày càng được cải thiện từ đó cũng giúp cho chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao. Tuy vậy, việc rèn luyện kĩ năng viết cho các em không phải một sớm một chiều thực hiện ngay được mà đòi hỏi mỗi giáo viên phải suy nghĩ, tìm tòi và áp dụng phương pháp dạy học một cách linh hoạt, mềm dẻo, bền bỉ thì kết quả mới được nâng cao. III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 1. Kết luận: Để học sinh có chữ viết đẹp, chuẩn mực thì đòi hỏi mẫu chữ của giáo viên cũng phải đẹp và chuẩn mực từ điểm đặt bút đến điểm kết thúc của một con chữ hay một chữ kể cả cách nối nét trong một con chữ và khoảng cách giữa chữ này đến chữ kia. Khi hướng dẫn học sinh nghe viết giáo viên cần phải đọc chuẩn, đọc rõ ràng, rành mạch, để học sinh nghe và phát âm đúng, viết đúng chính tả. Song song trong quá trình học sinh viết, giáo viên phải quan sát, theo dõi, uốn nắn cho những em viết chưa đúng, còn mắc lỗi chính tả khi viết. Khi viết học sinh lưu ý từng nét, từng con chữ, từng chữ và cách viết như thế nào là đúng, đẹp theo sự hướng dẫn của giáo viên. Điều đặc biệt mà chúng ta không thể bỏ qua là giai đoạn chấm và sửa bài hằng ngày, vì qua chấm bài hằng ngày giáo viên phát hiện những em viết chưa đúng, chưa đẹp, chưa tiến bộ để kịp thời nhắc nhở, uốn nắn trước khi sang bài mới. Ngoài ra giáo viên còn phải dùng thêm các phương pháp nêu gương, cho học sinh xem mẫu những bài viết đẹp và khích lệ cho các em trước lớp khi có tiến bộ. Trong cuộc họp phụ huynh, giáo viên cần giải thích cho phụ huynh thấy được ích lợi và tầm quan trọng của việc rèn chữ, giữ vở. Từ đó nhờ phụ huynh hỗ trợ thêm về việc dạy các em học ở nhà để cùng hợp tác, nhắc nhở cho các bài viết ở nhà của các em vì rèn chữ không phải một ngày, một buổi mà phải luyện trong suốt quá trình học tập của tất cả các phân môn, cả ở trường lẫn ở nhà. Nói tóm lại, để học sinh viết đúng chính tả, giáo viên cần rèn cho học sinh đọc, rèn chữ viết cho học sinh, đặc biệt hơn là giáo viên cần phải nắm vững chương trình của lớp mình dạy. Thường xuyên trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp về phương pháp dạy chính tả nhằm giúp học sinh nhận thức được viết đúng, viết đẹp là rất quan trọng. Ông bà xưa thường nói: “Nét chữ, nết người”. Để làm được điều đó, bản thân mỗi giáo viên cần tìm hiểu đặc điểm tính cách của từng em, rèn cho học sinh ngồi đúng tư thế, học sinh có ý thức chuẩn bị bài ở nhà; tập cho học sinh có thói
  17. 17 quen ghi chép những điều cần lưu ý vào sổ tay; lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh; tạo không khí sôi nổi trong giờ học phát huy tính tích cực của học sinh. Học sinh đọc tốt thì các em sẽ nghe viết tốt, nghe viết tốt sẽ giúp các em học tốt môn Tiếng Việt, viết đẹp, viết đúng chính tả cũng sẽ giúp các em tự tin hơn khi viết bài với môn Tiếng Việt nói riêng và các môn học khác, bởi lẽ học sinh lớp tôi là người đồng bào dân tộc thiểu số nên việc giao tiếp bằng tiếng Việt còn gặp nhiều khó khăn, chính vì vậy mà khi các em học tốt môn Tiếng Việt (viết đúng chính tả, đọc rõ từ ngữ) thì các em sẽ tự tin hơn khi bước ra ngoài xã hội, giao tiếp với mọi người bằng tiếng Việt mà không phải e dè hay tự ti. Việc áp dụng “Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 3C ở trường Tiểu học và Trung học cơ sở Đăk Trôi” này tôi thấy học sinh đã phát huy được những năng lực rất tốt về kĩ năng viết chính tả nhằm nâng cao chất lượng về cả hoạt động nghe, nói, đọc, viết của học sinh của lớp 3C, mà tôi nhận thấy rất phù hợp cho học sinh đồng bào dân tộc thiểu số ở trong khối 3 của trường TH&THCS Đăk Trôi và các trường có học sinh đồng bào dân tộc thiểu số. 2. Kiến nghị: * Đối với nhà trường. Nhà trường tạo điều kiện, cơ sở vật chất như bàn ghế đúng theo kích cỡ với học sinh tiểu học, phòng học có đủ ánh sáng, thoáng mát, sạch, đẹp; trang bị thêm một số thiết bị dạy học điện tử để đáp ứng nhu cầu học tập đầy đủ cho các em: tivi, * Đối với giáo viên: - Giáo viên cần phải đọc thật chuẩn tiếng phổ thông. - Giáo viên cần phải vận dụng phương pháp dạy đối với từng bài chính tả. - Phải quan tâm đến từng em có nguyên nhân viết sai lỗi chính tả. - Tổ chức các hội thi “Vở sạch chữ đẹp” của lớp, của khối để khuyến khích các em. - Đối với kĩ năng Đọc (phần luyện đọc từ khó) cần phân tích kĩ để học sinh đọc đúng, từ đó viết đúng. - Cần kết hợp với các môn học khác để rèn chính tả cho các em. - Xây dựng niềm vui, hứng thú cho các em trong học tập. - Lên lớp cần có đồ dùng trực quan, phối hợp nhiều phương pháp để rèn luyện kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh. - Giáo viên cần phải có tâm huyết với nghề, yêu thương và giúp đỡ học sinh trong học tập.
  18. 18 - Giáo viên cần có quyển sách “Từ điển chính tả thông dụng” của giáo sư Nguyễn Kim Thản – NXB Khoa học xã hôi nhân văn, năm 1995 và quyển sách “Sổ tay viết đúng hỏi ngã” do Huỳnh Thị Điệp biên soạn - NXB Tổng Hợp TPHCM, năm 2018. * Đối với phụ huynh: Cần kết hợp chặt chẽ với nhà trường để cùng giáo dục các em, thường xuyên kiểm tra việc viết bài của học sinh. Thu xếp, tạo điều kiện về thời gian, nơi học tập cho con em mình, không nên thả lỏng hoặc bắt các em làm việc nhiều dẫn đến ảnh hưởng việc học tập. * Đối với học sinh: - Khuyên các em hạn chế dùng từ (tiếng) địa phương. - Siêng đọc nhiều sách, báo, truyện (vì đọc là biện pháp giúp các em viết đúng.) - Thực hiện tốt các yêu cầu của cô giáo đề ra. - Nhớ các mẹo để viết đúng chính tả. - Tự ý thức, tự rèn luyện để điều chỉnh chữ viết của mình. Trên đây là một số chia sẻ kinh nghiệm về công tác giảng dạy và rèn kĩ năng viết đúng chính tả của tôi. Tuy nhiên, việc rèn viết đúng chính tả, viết chữ đẹp, giữ vở sạch là một công việc đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì và nhẫn nại, không nôn nóng. Và rồi nhờ óc thẩm mỹ và tính sáng tạo đã giúp con người chúng ta tạo nhiều mẫu chữ đẹp để trang trí và phục vụ nhu cầu đời sống con người. Những biện pháp tôi nêu ra ở trên, đó là những biện pháp mà bản thân tôi trong quá trình nghiên cứu tìm hiểu được từ thực tế giảng dạy cho nên có thể có những hạn chế nhất định. Rất mong sự đóng góp ý kiến của hội đồng khoa học các cấp, của các đồng nghiệp để những biện pháp đó của tôi được hoàn chỉnh hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! Đăk Trôi, ngày 09 tháng 01 năm 2023 Người viết Huỳnh Thị Mỹ Hiếu PHẦN ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CÁC CẤP. . .
  19. 19 .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. ..